Carl Jung và Loại tính cách tâm lý

Thảo luận trong 'Cognitive Functions' bắt đầu bởi Ngọc Tiến, 13/11/14.

  1. Ngọc Tiến

    Ngọc Tiến The lazy rational

    Tham gia ngày:
    12/11/14
    Bài viết:
    235
    MBTI:
    INTP
    Enneagram:
    5w6
    Cốt lõi
    Bản chất thuyết của Jung về loại tính cách tâm lý khá đơn giản; khi tâm trí của ta được hoạt động và đánh thức, chúng ta thay thế cách lấy thông tin và ra quyết định ở thế giới bên trong và ngoài của mình. Jung nhận ra có 8 mẫu thức khác biệt khi chúng ta thực hiện hoạt động trí óc này (có thể là quá trình tư duy, điều chỉnh thái độ hay quá trình nhận thức). Ông tạo ra những mẫu thức này qua việc kết hợp những cặp đối nghịch trong thái độ và chức năng. Jung mô tả 8 mẫu thức này trong sách của ông có tên là Psychological Types qua việc mô tả những người thường xuyên dùng một mẫu thức hơn - 8 loại này là gốc rễ của 16 loại tính cách MBTI nổi tiếng.


    "Loại tính cách tâm lý là thuyết về tính cách con người được phát triển bởi nhà tâm thần học người Thụy Sĩ Carl G.Jung giải thích những sự khác biệt thông thường giữa những người khỏe mạnh. Dựa trên quan sát của mình, Jung kết luận sự khác biệt trong hành vi là kết quả từ khuynh hướng bẩm sinh của các cá nhân trong cách sử dụng tư duy. Từ cách con người hành động theo các khuynh hướng, họ phát triển các mẫu thức về hành vi có thể dự đoán được. Thuyết tâm lý của Jung định nghĩa 8 loại mẫu thức và đưa ra lời giải thích cách mà các loại tính cách phát triển."

    Isabel Briggs Myers, Introduction to Type


    Thái độ và chức năng
    Thái độ - Hướng nội và Hướng ngoại

    Cặp đối lập đầu tiên Jung nhận ra là hai cách khác nhau chúng ta thích nghi hay định hướng bản thân với thế giới.

    Hướng ngoạinăng lượng ta hướng vào thế giới bên ngoài gồm các vị trí, con người, đồ vật; thế giới bên ngoài của ta.

    Hướng nội - năng lượng ta hướng vào thế giới bên trong qua các suy nghĩ và ý tưởng; thế giới bên trong của ta.

    Jung tin rằng cách ta định hướng với thế giới là nền tảng của tính cách. Năng lượng là nhân tố căn bản của tính cách con người. Chúng ta thay thế hai loại này qua lại lẫn nhau theo nhu cầu phát sinh và môi trường sống. Jung cho rằng ta ở thế giới mà mình thoải mái nhất.

    Chức năng - Nhận thức (Perceiving) và Đánh giá (Judging)
    Jung cho rằng chỉ hướng nội hay ngoại không đủ giải thích cho nhiều hành vi khác nhau của con người.

    Vì lý do đó, ông nhận ra hai loại chức năng chúng ta sử dụng để nhận thông tin nhận thức - chức năng nhận thức của Sensing (Giác quan) và Intuition (Trực giác):

    • Sensing Perception (tạm dịch Nhận thức qua giác quan): cách thức ta thu thập thông tin cụ thể qua 5 giác quan của mình
    • Intuitive Perception (tạm dịch Nhận thức qua trực giác): cách thức ta liên kết và suy luận ra ý nghĩa xa hơn.
    Jung cũng đặt ra 2 loại chức năng đối lập khác khi chúng ta sử dụng để đánh giá thông tin và ra quyết định; chức năng đánh giá Thinking (Lý trí) và Feeling (tình cảm):

    • Thinking Judgment (tạm dịch Đánh giá qua lý trí): cách thức ta sử dụng để đánh giá thông tin khách quan và hợp lý.
    • Feeling Judgment (tạm dịch Đánh giá qua tình cảm): cách thức ta sử dụng để đánh giá thông tin xem cái gì quan trọng với tôi và bạn.
    Cũng giống về năng lượng, Jung xác định rằng chúng ta có khuynh hướng bẩm sinh sử dụng hoặc thích một trong 4 chức năng hơn. Hoặc chúng ta thích dành năng lượng cho chức năng Nhận thức hay Đánh giá hơn.

    Tám cách thức tư duy
    Jung quan sát rằng Thái độ hướng ngoại và nội luôn sử dụng kết hợp chức năng Đánh giá hay Nhận thức.

    Bốn chức năng (Giác quan - Sensing, Trực giác - Intuition, Lý trí - Thinking, và Tình cảm - Feeling) cùng hai thái độ (Hướng ngoại và nội) kết hợp tạo ra 8 cách thức tư duy. 8 cách thức tư duy này là cốt lõi thuyết về loại tính cách tâm lý của Jung; đây là cách thức mà chúng ta thích nghi với thế giới.

    Mỗi chức năng Nhận thức và Đánh giá có "hương vị" khác nhau khi sử dụng trong thế giới bên trong và bên ngoài:

    "Nói đúng ra, không có thuần tùy người hướng nội và hướng ngoại, mà chỉ có chức năng hướng nội và hướng ngoại"

    C.G. Jung, Psychological Types

    Cách thức tư duy Định nghĩa
    Giác quan Hướng ngoại - Se: Tập trung hoạt động vào góc nhìn khách quan bên ngoài qua các dữ kiện có cơ sở và kinh nghiệm qua giác quan.

    Giác quan Hướng nội - Si: Tập trung suy nghĩ bên trong qua các kinh nghiệm chủ quan và cất giữ các dữ kiện có cơ sở trong quá khứ.

    Trực giác Hướng ngoại - Ne: Tập trung hoạt động vào góc nhìn khách quan bên ngoài qua các điều mới, khả năng và ý nghĩa sự việc.

    Trực giác Hướng nội - Ni: Tập trung suy nghĩ bên trong qua góc nhìn chủ quan bao gồm các biểu tượng, ý nghĩa, hiểu biết và mẫu thức xuất hiện trong tiềm thức.

    Tư duy Hướng ngoại - Te: Tập trung hoạt động vào thế giới bên ngoài bằng việc đặt ra các trình tự hợp lý đến góc nhìn khách quan qua xây dựng cấu trúc, tổ chức và ra quyết định.

    Tư duy Hướng nội - Ti: Tập trung suy nghĩ bên trong vào góc nhìn chủ quan của lý trí để tìm kiếm hiểu biết qua các nguyên tắc hợp lý của hiện tượng.

    Cảm xúc Hướng ngoại - Fe: Tập trung hoạt động vào thế giới bên ngoài bằng việc mang trình tự đến góc nhìn khách quan qua xây dựng và tìm kiếm sự hòa hợp với người khác, cũng như căn chỉnh những giá trị một cách thẳng thắn.

    Cảm xúc Hướng nội - Fi: Tập trung suy nghĩ bên trong vào những giá trị của góc nhìn chủ quan để tìm kiếm sự hòa hợp qua hành vi cá nhân đúng đắn với những giá trị đó và đánh giá hiện tượng dựa trên các giá trị đó.


    Theo Jung, chúng ta xác định tính cách qua chức năng chủ đạo (dominant function) - cách thức tư duy mà ta thích nhất. Ví dụ, nếu chúng ta thích sử dụng Extraverted Sensing (Giác quan Hướng ngoại) nhiều hơn bảy cái còn lại thì đó là chức năng chủ đạo và chúng ta người thuộc loại Giác quan Hướng ngoại.

    Jung nói rõ là chúng ta có thể cảm thấy việc mệt mỏi và mất năng lượng khi sử dụng chức năng khác trong thời gian quá lâu. Jung nói nó có hại cho tâm lý chúng ta khi môi trường không hỗ trợ chúng ta sử dụng chức năng chủ đạo của mình; ông gọi đó là "Sự bóp méo tính cách".

    "Jung nhận thấy rằng không thể sử dụng thái độ Hướng nội và Hướng ngoại và chức năng Đánh giá và Nhận Thức một cách độc lập. Người thích hướng ngoại sẽ tập trung Nhận thức và Đánh giá của họ vào thế giới bên ngoài, trong khi người thích hướng nội sẽ tập trung Nhận thức và Đánh giá vào các ý tưởng trong các tình huống được phép."

    Isabel Briggs Myers, Gifts Differing


    Một ví dụ của sử dụng các cách thức tư duy

    Đây là ví dụ làm thế nào bạn có thể sử dụng tất cả cách thức tư duy ở cửa hàng tạp hóa cho buổi tối bạn định làm (liên hệ định nghĩa của 8 cách thức tư duy khi bạn đọc ví dụ):

    Ngay khi bạn lái xe đến cửa hàng, bạn hình dung bức tranh trong tâm trí về buổi tiệc sẽ như thế nào (Ni). Bạn vào cửa hàng và nhìn thấy những trái cà chua không được chín (Se). Bạn quyết định bỏ qua món salad cà chua vì muốn tốt cho bạn bè (Fe). Ngay lập tức bạn bắt đầu động não những lựa chọn khác (Ne) trong khi xem xét chi tiết các loại quả khác (Se). Bạn đi ngang cây việt quất và nhớ lại bộ phim bạn vừa xem về lao động trẻ em trong vùng việt quất (Si). Cách đối xử với trẻ em như vậy không tha thứ được, vì vậy bạn quyết định không mua việt quất để làm bánh bạn đã nghĩ trước đó (Fi). Bạn đi ngang lò bánh mì và nhìn thấy một bánh cà rốt (Se) đưa bạn quay lại bữa sinh nhật của mẹ mà bạn làm năm ngoái (Si). Bạn nhìn đồng hồ và quyết định nên đi nhanh hơn vì chỉ còn vài giờ để chuẩn bị (Te). Bạn chuyển sự chú ý đến suy nghĩ của mình để cấu trúc lại bên trong tâm trí phần còn lại của ngày (Ti).

    Bài tập để truy cập 8 chức năng nhận thức:
    Bạn có thể muốn hiểu làm thế nào để truy cập các cách tư duy để nhìn thấy bạn đang sử dụng chúng như thế nào; đây là phần bài tập được phát triển để giúp mọi người hiểu họ cảm thấy thoải mái như thế nào với các chức năng tư duy đa dạng. Với những bài tập này, bạn cần chọn một vật có thể là: bút, táo, cam, hay kẹo...

    Cách thức tư duy Bài tập

    Giác quan Hướng ngoại - Se: Khám phá vật thể bằng năm giác quan; nhìn, nếm nó (nếu ăn được!), ngửi, nhai để nghe âm thanh, ngửi mùi vị của nó.

    Giác quan Hướng nội - Si: Giữ vật thể và nghĩ về một trải nghiệm bạn có với vật thể; nhớ lại chi tiết cảm giác bạn trải qua; nó là cảm giác gì, nó trông như thế nào, bạn đã làm gì với nó, ai ở đó, bạn mặc cái gì...

    Trực giác Hướng ngoại - Ne: Với một người khác, nói về mọi thứ bạn có thể làm với vật thể mà bạn chưa từng làm trước đây.

    Trực giác hướng nội - Ni: Nhắm mắt lại và tưởng tượng vật thể tương trưng cho bạn hay nó có ý nghĩa thế nào với bạn.

    Tư duy hướng ngoại - Te: Lấy một vài vật khác nhau và sắp xếp chung theo những chuẩn mực khách quan; hỏi người khác có nhận ra chuẩn mực bạn đã sử dụng.

    Tư duy hướng nội - Ti: Nghĩ về tất cả các loại khác nhau của những vật bạn có và phân loại chúng trong tâm trí thành những nhóm loại trừ nhau, viết xuống xem có loại nào trùng nhau.

    Cảm xúc Hướng ngoại - Fe: Làm gì đó cho ai đó với mục đích làm họ cảm thấy tốt hơn.

    Cảm xúc Hướng nội - Fi: Nhắm mắt lại và nghĩ xem vật đó có phản ánh điều gì quan trọng với bạn - suy nghĩ về những giá trị sâu sắc đó.

    Dịch từ mbtitoday.org
     
    surphi10, Mây Trời, Bùi Minh Thi6 others thích bài này.

Chia sẻ trang này

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.