[Đôi điều về Enneagram] - Intro 1.

Thảo luận trong 'Enneagram' bắt đầu bởi helmine, 2/1/18.

  1. helmine

    helmine Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    28/5/15
    Bài viết:
    3
    Bài dịch được trích từ nguồn: Unveiling the Enneagram – Intro 1 | The Enneagram ...info from the underground.
    Vì có một số points khá hay nên người dịch đem về cho các member suy ngẫm.

    Georges Ivanovich Gurdjieff: An aspect of Gurdjieff's teachings which has come into prominence in recent decades is the enneagram geometric figure. For many students of the Gurdjieff tradition, the enneagram remains a koan, challenging and never fully explained. There have been many attempts to trace the origins of this version of the enneagram; some similarities to other figures have been found, but it seems that Gurdjieff was the first person to make the enneagram figure publicly known and that only he knew its true source.[citation needed] Others have used the enneagram figure in connection with personality analysis, principally with the Enneagram of Personality as developed by Oscar Ichazo, Claudio Naranjo and others. Most aspects of this application are not directly connected to Gurdjieff's teaching or to his explanations of the enneagram.

    Dịch đại khái: ông này là người đầu tiên đưa Enneagram ra công khai và hiện giờ người ta chưa tìm ra nguồn chính thức của nó. Cái Enneagram với ông này là một dạng Ký hiệu hình học để diễn đạt cái toàn thể :v kiểu nó mang ý nghĩa rất đa chiều.

    Gurdjieff lần đầu tiên đưa Enneagram vào bài giảng của mình vào năm 1916, tại Nga. Nội dung bài giảng của ông được P. D. Ouspensky ghi chép lại và đưa vào quyển sách IN SEARCH OF THE MIRACULOUS: FRAGMENTS OF AN UNKNOWN TEACHING, phát hành năm 1949. Dưới đây tác giả trình bày một số vấn đề chính về Enneagram mà Gurdjieff đã đưa vào bài giảng của mình.

    1. Biểu tượng của Enneagram được tạo ra nhằm diễn đạt sự thật khách quan – một thứ rất khó diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường.

    Theo Ouspensky: “G(Gurdjieff) diễn đạt hai khái niệm “khách quan” và “chủ quan” theo hai hàm nghĩa rất đặc biệt. Ông lấy hai khái niệm này là cơ sở để phân biệt trạng thái “chủ quan” và trạng thái “khách quan” của ý thức. Những hiểu biết thông hường của chúng ta, được quan sát bằng năm giác quan, do đạc bằng những phương pháp thông thường hoặc những lý thuyết khoa học được rút ra từ những thông tin chúng ta có được ở trạng thái “chủ quan” của não bộ được gọi là “chủ quan”. Những hiểu biết được tìm thấy từ những phương pháp quan sát cổ đại, knowledge in things themselves (hmm, mình hiểu ý đoạn này những không dịch được), hiểu biết có được từ trạng thái “khách quan” của ý thức, hiểu biết về cái Toàn Thể, với ông là những hiểu biết “khách quan”.

    2. Một trong những thứ quan trọng nhất của hiểu biết “khách quan” là hiểu biết về sự Thống Nhất – sự thống nhất của tất cả mọi thứ; sự thống nhất tồn tại trong sự khác biệt.

    3. Ý niệm về sự Thống Nhất đã được truyền đạt lại – trong quá khứ - thông qua logic học, triết học hay thông qua giáo lý của các đạo giáo. Những người được truyền lại những ý niệm này phải trải qua một sự chuẩn bị đặc biệt.

    4. Những ảnh hưởng và nhiễu động từ bên ngoài luôn tác động vào quá trình này. Bởi vì sự thật “khách quan” chỉ có thể hiểu được với trạng thái ý thức “khách quan” nên khi một người có trạng thái ý thức “chủ quan” cố gắng hiểu những hiểu biết “khách quan” sẽ tạo ra “ảo tưởng”

    G: “Ở trạng thái não “khách quan” thế giới được chia thành hàng ngàn những hiện tượng không liên quan tới nhau. Những nỗ lực liên kết những hiện tượng này vào một hệ thống nào đó theo cách khoa học hay triết học không dẫn tới kết quả gì vì bởi vì con người không thể xây dựng lại ý niệm của Toàn Thể dựa vào những sự thật tách rời và họ không thể tiên đoán được những nguyên tắc chia tách của Toàn Thể khi mà không biết những quy luật của sự chia tách đó.

    5. Vì ngôn ngữ con người được tạo ra để diễn đạt những ý niệm chủ quan về vật thể nên nó là một phương tiện không hiệu quả để diễn đạt những sự thật khách quan. Vì vậy những người đã nắm được sự thật khách quan phải dùng những ngụ ngôn, ký tự và những nguyên tắc để diễn đạt, truyền lại và bảo vệ những sự thật này từ người này quan người khác, từ thế hệ này quan thế hệ khác. Những ngôn ngữ này được dùng để truyền đạt trực tiếp cho những người có ý thức “ở trạng thái cao hơn” và rất tối nghĩa với những người có đầu óc thông thường, chủ quan.

    6. Ký tự dành cho những người có đầu óc phân tích ở trạng thái cao hơn, và Ngụ ngôn cho những người có đầu óc cảm xúc ở trạng thái cao hơn.

    7. Hai nguyên tắc diễn đạt quan trọng:

    - “As above, so below” – thể hiện sự đồng điệu ở những điều vi mô và những điều vĩ mô.

    - “Know thyself” – được tìm thấy nhiều ở đền thờ thần Apollo tại Delhi và thường được gắn với Socrates.

    8. Một số Ký hiệu được thể hiện dưới dạng biểu đồ - vừa thể hiện được những sự thật khách quan, vừa thể hiện được cách tiếp cận chúng. Nghiên cứu về Ký hiện được coi là một sự chuẩn bị để hiểu được Khách quan. Những kiến thức này có thể tiếp cận được bằng cách nghiên cứu về tính hai mặt (duality) và trinity, và cách dễ hiểu và dễ thực hiện nhất là để ý và hiểu được cách vận hành của chính những luật lệ này trong bản thân.

    9. Tuy nhiên, những kí hiệu của sự thật khách quan này chỉ thật sự được hiểu bởi những người đã có sẵn trạng thái “khách quan”.

    10. Những hệ thống như thần học, giả kim học, phép thật, chiêm tinh học, bài Tarot đều là những phương tiện diễn đạt cái Toàn thể. Tuy nhiên, việc thiếu năng lực và thiếu quan tâm khiến cho những phương này trở thành tác nhân gây nên hoang tưởng. Một lý do cho việc này là những ký hiện này diễn đạt cái Toàn thể của sự khác biệt vô tận, vì vậy có vô tận cái mặt khác nhau có thể xem xét. Chúng không thể được hiểu một cách trực tiếp, cứng nhắc, đồng bộ, giảm đi sự phức tạp của chúng bằng cách ép chúng vào một khuôn mẫu hữu hạn. Thay vì vậy, để hiểu được chúng cần có khả năng nhìn nhận từ nhiều chiều cùng một lúc.

    11. Hiểu biết đúng về những kí hiệu không thể dẫn tới sự xung đột. Nó mở ra những hiểu biết sâu hơn, và đồng thời tạo ra sự mong muôn về những kết quả thực sự, nên nó không mang tính lý thuyết.

    [Ongoing]
     
    surphi10Anita thích bài này.
  2. rogp10

    rogp10 Con nhà người ta

    Tham gia ngày:
    29/8/15
    Bài viết:
    273
    MBTI:
    INTP - LII
    Enneagram:
    9w1
    Mục 1 khá là khó nói, một cặp khái niệm tương tự là conventional truth vs. ultimate truth. Còn vì sao gọi là conventional thì viết ra nó loãng :)
     
    Last edited: 3/1/18
    Anita thích bài này.

Chia sẻ trang này

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.